Adopted Children Immigrant Visa Unit
Báo cáo tóm tắt về sai phạm trong cho/nhận con nuôi ở Việt Nam
Ngày 25/10/2007, trước “mối quan ngại ngày càng tăng về các sai phạm trong các phương pháp nhận dạng trẻ em được nhận làm con nuôi ở Việt Nam và những khó khăn liên quan trong việc phân loại các trẻ em đó như là trẻ mồ côi”, USCIS (Vụ Công dân và Nhập cư Hoa Kỳ) yêu cầu các đơn đề nghị I-600 phải được nộp ở thành phố Hồ Chí Minh, và việc xử lý các đơn này phải được hoàn tất trước khi cha mẹ nuôi tương lai đến Việt Nam. Các thủ tục này cho phép USCIS xác định một trẻ em có thực sự là một trẻ mồ côi hay không, theo định nghĩa của Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch. Trong 6 tháng kể từ khi chương trình bắt đầu, các quan chức Mỹ ở Việt Nam đã điều tra hơn 300 đơn I-600. Dưới đây là báo cáo tóm tắt về các phát hiện của chúng tôi.
------------------------------------
Tình hình gian lận trong nước
------------------------------------
Việt Nam được coi là một nước có nguy cơ cao về gian lận nhập cư, theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Các tài liệu giả được nộp thường xuyên bởi các đương đơn Việt Nam trong các hồ sơ xin cả hai loại visa di dân và không di dân. Chúng bao gồm các tài liệu bị sửa trực tiếp và các tài liệu chính thức được cấp không hợp lệ hoặc dựa trên thông tin sai lệch. Các giấy khai sinh, sổ đăng ký hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn có thể mua được dễ dàng từ các quan chức chính quyền địa phương tham nhũng hoặc những cò môi giới. Gian lận hôn nhân (để có quyền nhập cư) diễn ra phổ biến và kết quả là có nhiều trường hợp bị bắt giữ ở Hoa Kỳ.
-------------------------------------------------------
Luật cho/nhận con nuôi và cơ cấu hành chính
-------------------------------------------------------
Việc cho/nhận con nuôi liên quốc gia ở Việt Nam được điều chỉnh bởi 2 nghị định: Nghị định 68/2002 và Nghị định 69/2006. Các nghị định này phân chia trách nhiệm ở cấp quốc gia về vấn đề cho/nhận con nuôi giữa Vụ Con nuôi Quốc tế (gọi tắt theo tiếng Anh là DIA) thuộc Bộ Tư pháp, và Bộ Lao động-Thương Binh-Xã hội (gọi tắt theo tiếng Anh là MOLISA). Tuy nhiên hầu hết công tác quản lý việc cho/nhận con nuôi được thực hiện ở cấp tỉnh hoặc cấp huyện, với sự giám sát tối thiểu của DIA và MOLISA. Ví dụ, việc ghép trẻ và cha mẹ nuôi là trách nhiệm của Phòng Lao động-Thương Binh-Xã hội cấp huyện. Trong nhiều trường hợp thẩm quyền này được trao cho giám đốc trại trẻ mồ côi. Nếu DIA cảm thấy một đứa trẻ không đủ điều kiện để được nhận làm con nuôi liên quốc gia, họ có thể đề nghị văn phòng đã ghép con với cha mẹ nuôi xem lại hồ sơ, nhưng họ không thể ngăn chặn việc ghép đó hoặc ngăn cản việc hoàn tất đầy đủ việc nhận làm con nuôi.
Định nghĩa về trẻ mồ côi có thể nhận làm con nuôi được nêu trong Điều 44 Nghị định 68/2002, theo đó một trẻ em không thể được trao làm con nuôi nếu không có “sự đồng ý tự nguyện bằng văn bản của cha và/hoặc mẹ của trẻ”. Nghị định chỉ nêu ra 3 trường hợp ngoại trừ đối với quy định này. Một là nếu cả cha và mẹ đã qua đời, hai là nếu trẻ “là vô thừa nhận hoặc bị bỏ rơi ở một cơ sở y tế”, và ba là nếu “cha mẹ của trẻ mất năng lực hành vi dân sự” (nguyên văn). Nghị định 69/2006 nêu rõ trại trẻ mồ côi hoặc Uỷ ban Nhân dân phải chứng minh rằng một trẻ em thực sự thuộc một trong ba diện ngoại trừ này. Nếu không, trẻ vẫn được coi là thuộc sự giám hộ của cha mẹ, và phải có sự đồng ý của họ trước khi việc cho/nhận con nuôi được chính quyền công nhận. Nghị định 68/2002 và Nghị định 69/2006 cũng xác lập rằng trong trường hợp một trẻ em là vô thừa nhận hoặc bị bỏ rơi ở một cơ sở y tế, phải dành 30 ngày để tìm kiếm cha mẹ đẻ, và trong mọi trường hợp phải dành thêm 30 ngày để tìm cha mẹ nuôi trong nước. Việc tìm kiếm này do trại trẻ mồ côi hoặc Uỷ ban Nhân dân địa phương thực hiện.
--------------------------------------------------------------------
Quan hệ tài chính giữa các DVCN và các trại trẻ mồ côi
--------------------------------------------------------------------
Luật pháp Việt Nam yêu cầu một Dịch vụ Con nuôi (DVCN) phải ký một thoả thuận với một trại trẻ mồ côi trước khi DVCN đó có thể dàn xếp việc cho/nhận con nuôi với trại trẻ mồ côi. Các thoả thuận này thường không được công bố. Một số giám đốc trại trẻ mồ côi nói với Đại sứ quán Hoa Kỳ rằng họ chủ động mặc cả với nhiều DVCN, và chọn cộng tác với DVCN nào đóng góp nhiều nhất trên mỗi trẻ liên quan. Tuy các khoản đóng góp này có thể là một cơ chế để trợ giúp cho việc chăm sóc các trẻ em ở trại trẻ mồ côi, song chúng cũng có thể làm méo mó hệ thống cho/nhận con nuôi.
Các giám đốc trại trẻ mồ côi ở 4 tỉnh đã báo cáo với Đại sứ quán rằng người ta đưa ra sự khuyến khích lớn về tài chính để nâng tối đa số trẻ mà người nước ngoài có thể nhận làm con nuôi ở các trung tâm của họ. Khoản đóng góp trên mỗi trẻ (có thể làm con nuôi liên quốc gia) có thể cao gấp 10 lần mức chi tiêu chuẩn của chính phủ. Các nhân viên bệnh viện và các nhà hoạt động xã hội cho hay các giám đốc trại trẻ mồ côi chào mời với họ các khoản khuyến khích tài chính cho mỗi trẻ em được đưa đến trại trẻ mồ côi của họ.
Hệ quả của sự tự chủ mà MOLISA trao cho các giám đốc trại trẻ mồ côi là các cá nhân giám đốc trại trẻ mồ côi, liên kết với các đại diện của DVCN bảo trợ cho họ, rất thoải mái quyết định việc đóng góp như thế nào, đóng góp bao nhiêu, và liệu các đơn xin nhận con nuôi của các cha mẹ nuôi tương lai trong nước sẽ được xử lý hay không. Ví dụ, có một trại trẻ mồ côi, được một DVCN Mỹ tài trợ toàn bộ, hàng tháng nộp các báo cáo chi tiêu và hoá đơn cho DVCN đó. DVCN sau đó chuyển tiền để thanh toán cho các chi tiêu của trại trẻ mồ côi. Con số trẻ mồ côi ở trại này ổn định trong 3 năm qua. Trại sạch sẽ, có thuốc men dự trữ dồi dào và có một y tá chính quy làm việc. Trại trẻ mồ côi này ưu tiên giúp trẻ đoàn tụ với cha mẹ đẻ, xử lý các trường hợp nhận con nuôi trong nước và liên quốc gia với số lượng như nhau. Ngược lại, một trại khác nhận một khoản đóng góp cố định hàng tháng cho mỗi trẻ trong trại có thể được nhận làm con nuôi liên quốc gia và việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt trực tiếp với giám đốc trại. Trại trẻ mồ côi này có số trẻ được chăm sóc ở trại tăng hơn 2000% trong một năm qua, nhưng trại không tăng đáng kể nhân viên và không có y tá chính quy.
Theo DIA, người ta yêu cầu các trại phải giới thiệu một trẻ cho việc cho/nhận con nuôi liên quốc gia cho mỗi x đôla do DVCN đóng góp. Như vậy, nếu DVCN tài trợ 1 dự án 10.000 đôla và số đóng góp tính trên 1 trẻ là 1.000 đôla, vậy thì trại đó phải giới thiệu cho DVCN 10 trẻ cho việc cho/nhận con nuôi. Nếu trại đó không có 10 trẻ đủ điều kiện để được nhận làm con nuôi liên quốc gia, thì theo DIA, giám đốc trại trẻ mồ côi phải tìm thêm trẻ để thực hiện đúng thoả thuận về phần của ông ta. Hai giám đốc trại trẻ mồ côi đã xác nhận với các viên chức lãnh sự rằng họ cảm thấy bị áp lực phải tìm thêm trẻ em cho trại trẻ của họ để “bù lại” các khoản đóng góp của các DVCN.
Một hiệu ứng khác của hệ thống cho/nhận con nuôi là nó có thể làm giảm sút sự bảo vệ mà luật pháp Việt Nam dành cho cha mẹ đẻ, chẳng hạn như thời hạn 30 ngày bắt buộc để tìm cha mẹ đẻ và hoặc cha mẹ nuôi trong nước như mô tả ở trên. Vì, trong hầu hết các trường hợp, DVCN có quan hệ chặt chẽ với trại trẻ mồ côi, đại diện của DVCN có thể được thông báo ngay khi có một đứa trẻ nhiều tiềm năng làm con nuôi nhập trại. Điều này có thể dẫn đến một “thư giới thiệu mềm dẻo” theo đó cha mẹ nuôi được thông báo họ đã được ghép với một đứa trẻ trước khi kết thúc 2 thời hạn 30 ngày tìm kiếm liên tục. DIA đã tuyên bố những trường hợp giới thiệu sớm như vậy là bất hợp pháp. Thế nhưng trong hơn 40 trường hợp được ghi lại trong hồ sơ, DIA đã không có hành động gì để trừng phạt hay ngăn chặn việc cấp các thư giới thiệu mềm dẻo đó, cần lưu ý rằng tất cả những gì họ có thể làm là thông báo cho các quan chức cấp tỉnh và huyện về luật pháp và yêu cầu họ tuân thủ.
Các quan chức địa phương Việt Nam báo cáo rằng họ chưa bao giờ nhận được cuộc gọi nào liên quan đến các tin quảng cáo tìm kiếm cha mẹ đẻ của trẻ bị bỏ rơi. Trên thực tế, các quan chức Bộ Tư pháp công nhận rằng các mẩu quảng cáo như vậy không hiệu quả vì nhiều gia đình ở các tỉnh này không xem được TV, không nghe được radio và thường bị mù chữ. Các nhà hoạt động xã hội cũng nhận xét rằng nếu một đứa trẻ là vô thừa nhận, gia đình cha mẹ đẻ hầu hết có xu hướng nhận lại trẻ trong khoảng 3-6 tháng sau khi bỏ rơi. Tuy nhiên, các mẩu quảng cáo chỉ được đăng trong 1 tuần sau khi trẻ bị bỏ rơi, càng làm cho chúng kém hiệu quả. Hơn thế, các quan chức cấp tỉnh đã nói rằng các mẩu quảng cáo được đăng theo cách thức làm giảm rõ rệt khả năng gia đình cha mẹ đẻ có thể nhìn thấy hay nghe thấy chúng. Các cuộc điều tra của Đại sứ quán cũng khẳng định rằng các quảng cáo không có hiệu quả. Trong 6 trường hợp mà Đại sứ quán đã điều tra và tìm được gia đình cha mẹ đẻ của trẻ vô thừa nhận, các gia đình này cho hay họ chưa bao giờ nghe thấy hay nhìn thấy bất cứ mẩu quảng cáo nào tìm kiếm cha mẹ của trẻ cả.
Các giám đốc trại trẻ mồ côi ở 2 tỉnh đã xác nhận với Đại sứ quán rằng tuy họ nhận được các hồ sơ của các gia đình quan tâm đến việc nhận con nuôi trong nước, song họ đã không xử lý các hồ sơ này. Họ đã nói rằng lý do các hồ sơ này không được xử lý là vì trại của họ sẽ nhận được một khoản đóng góp từ một DVCN nếu đứa trẻ được nhận làm con nuôi quốc tế, nhưng sẽ không được nếu trẻ được nhận làm con nuôi trong nước. Một giám đốc trại trẻ mồ côi cho biết ông ấy cần phải được DVCN tài trợ cho trại “cho phép” thì ông mới có thể để một đứa trẻ được nhận làm con nuôi trong nước, ông nhận xét rằng các khoản thanh toán hàng tháng mà DVCN trả cho các trẻ em đã tạo cho DVCN có “thẩm quyền” quyết định tương lai của trẻ.
-----------------------------------------
Các hình thức cho, nhận con nuôi
-----------------------------------------
Theo Luật Nhập cư Hoa Kỳ, trẻ em có thể được nhận làm con nuôi nếu là trẻ mồ côi do không biết nơi ở của bố mẹ đẻ (bị bỏ rơi), hoặc nếu bố hoặc mẹ hoặc cả hai nhường quyền giám hộ trẻ vĩnh viễn cho trại trẻ mồ côi, (thuật ngữ được dùng trong Luật Nhập cư Hoa Kỳ là “từ bỏ quyền” nhưng thường được hiểu theo nghĩa “nhường quyền”). Trước khi việc cho, nhận con nuôi bị ngừng lại vào năm 2002, 80% trường hợp là trẻ được giao cho cơ sở nuôi dưỡng, 20% trường hợp còn lại là trẻ vô thừa nhận. Kể từ khi Biên bản Thoả thuận có hiệu lực năm 2005, con số này đã thay đổi với hơn 85% trường hợp là trẻ bị bỏ rơi. Tuy nhiên, các cơ sở nuôi dưỡng không tham gia chương trình cho, nhận con nuôi liên quốc gia đã cho Đại sứ quán biết họ không thấy số trẻ bị bỏ rơi tăng lên tại cơ sở của mình, và đa số trẻ tại các cơ sở này là trẻ được chăm sóc. Đại sứ quán đã nhận được nhiều báo cáo đáng tin cậy từ cán bộ quản lý của các cơ sở nuôi dưỡng về việc người môi giới cố ý dàn dựng các vụ bỏ rơi giả để che dấu nhân thân bố mẹ đẻ của trẻ.
-------------------------------------------
Trường hợp nhường quyền giám hộ
-------------------------------------------
Trường hợp cả bố và mẹ đẻ giao trẻ vĩnh viễn cho trại trẻ/cơ sở nuôi dưỡng chiếm 15% các ca trong chương trình Orphan First. 75% bố mẹ đẻ khi được viên chức lãnh sự phỏng vấn cho biết ngoài việc được thanh toán cho các chi phí về ăn uống, y tế và hành chính, họ còn nhận được tiền từ trại trẻ để đổi lấy việc đưa con của họ vào trại. Trung bình khoản tiền họ nhận được là sáu triệu đồng, tương đương với 11 tháng lương của bậc lương tối thiểu tại Việt Nam. Nhiều gia đình trong số này nói các khoản thanh toán trên là lý do chính khiến họ giao con mình cho trại trẻ. Phần lớn các bố mẹ được phỏng vấn nói họ không nghĩ đến việc đưa con mình vào trại trẻ cho đến khi có một nhân viên y tế hoặc nhân viên quản lý trại trẻ gợi ý cho họ việc đó và nói rằng họ sẽ nhận được tiền nếu làm vậy. Nhiều bố mẹ cũng cho biết quản lý trại trẻ nói con họ sẽ thường xuyên được về thăm nhà và sẽ trở về nhà khi đến độ tuổi nhất định (thường là 11 hoặc 12 tuổi), hoặc sẽ gửi tiền về cho gia đình từ Mỹ. Trong những trường hợp như vậy, đa số bố mẹ đẻ đều nói họ sẽ không đồng ý cho con mình nếu bất kỳ điều kiện nào trong số trên không được thực hiện.
Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội (MOLISA) đã tuyên bố các khoản chi trả cho bố mẹ đẻ nói trên là không được phép và không xuất phát từ các nguồn tài chính của chính phủ. Bộ Tư pháp cũng đã đưa ra khẳng định tương tự rằng các khoản tiền đó là phi pháp theo luật Việt Nam. Tuy nhiên, MOLISA cũng nói rằng hoàn toàn không có quy định nào về việc lãnh đạo các cơ sở nuôi dưỡng sẽ sử dụng tiền nhận được từ các DVCN như thế nào; lãnh đạo cơ sở nuôi dưỡng có thể đưa tiền đó cho bất cứ ai miễn là người nhận tiền không bị buộc phải làm một việc nào đó như việc từ bỏ con mình để được nhận tiền. Theo đó, MOLISA có thể khẳng định các khoản tiền nêu trên do nhân viên quản lý trại trẻ/cơ sở nuôi dưỡng trả cho bố mẹ đẻ của trẻ có nguồn gốc từ DVCN, nhưng không có khả năng hành động hoặc điều tra các báo cáo về việc mua bán trẻ em.
-------------------------------
Trẻ bị bỏ rơi - Desertions
-------------------------------
Nhân viên quản lý các cơ sở nuôi dưỡng có tham gia chương trình cho/nhận con nuôi liên quốc gia trên toàn quốc cho biết số trẻ bị bỏ rơi tại Việt Nam đã tăng mạnh kể từ năm 2005; đây chính là năm thoả thuận về cho, nhận con nuôi với Hoa Kỳ được ký. Các trại trẻ mô côi tại 7 tỉnh, thành cho biết số trẻ bị bỏ rơi đã tăng 17 lần. Tuy nhiên, các trại trẻ mồ côi không tham gia chương trình cho, nhận con nuôi liên quốc gia không thấy có hiện tượng tăng số trẻ bị bỏ rơi. Số liệu thống kê các trường hợp trẻ bị bỏ rơi cho thấy tại nhiều cơ sở nuôi trẻ, số lượng trẻ vào trại tăng cao và chưa được giải trình.
Số liệu tại các tỉnh cũng cho thấy xuất hiện hình thức “tụ điểm trẻ bị bỏ rơi” bất bình thường. Ví dụ, tại một tỉnh trong năm 2007 có 77 trường hợp trẻ bị bỏ rơi, 76 trong số đó tập trung vào một trại trẻ. Giám đốc trại trẻ này cho Đại sứ quán biết trước khi ông ký thoả thuận với DVCN, trại có 10 trẻ, phần lớn là do bố mẹ đẻ giao cho trại. Đến tháng 1,2007, trại có 23 trẻ, 50% trong số đó là bị bỏ rơi. Đến tháng 1-2008, trại có 70 trẻ sơ sinh, 90% trong số đó là bị bỏ rơi. Vị giám đốc này cho rằng số trẻ và số trường hợp bị bỏ rơi tăng lên là do trại trẻ đã nhận ngân sách từ DVCN. Ông cũng nói trại đã thuê nhân viên theo hợp đồng để tìm kiếm các trẻ từ 0 đến 6 tuổi thuộc các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và khuyến khích các gia đình đưa trẻ vào trại. Bảo vệ của trại cũng nói số trẻ được nuôi tại đây trước năm 2006 rất ít, nhưng bây giờ họ “tìm thấy” trung bình 5 trẻ một tháng.
Các trường hợp khác là người dân tìm thấy trẻ trên đồng hoặc bên lề đường. Thông thường, người tự nhận là tìm thấy trẻ (người tìm thấy trẻ) là công an, cán bộ làng, hoặc người nhà của họ. Những người này thường có quan hệ với giám đốc trại trẻ hoặc cán bộ địa phương có thẩm quyền phê duyệt việc cho/nhận con nuôi. Điều tra của Đại sứ quán cho thấy rất nhiều trong số các báo cáo này không trung thực, trong đó có trường hợp người tìm thấy trẻ nói với viên chức lãnh sự là họ chưa bao giờ tìm thấy một trẻ bị bỏ rơi nào, mặc dù chỉ mới vài tháng hoặc vài tuần trước họ đã ký giấy tờ xác nhận việc tìm thấy trẻ. Trong một trường hợp, một người tìm thấy trẻ đã không thể nhớ về việc đó mặc dù sự việc được cho là tìm thấy trẻ mới chỉ xảy ra ngay ngày hôm trước. Một trường hợp khác là người tìm thấy trẻ cho biết công an đã nói với cô nếu cô không kí một tờ khai giả mạo về việc cô tìm thấy một đứa trẻ năm 2007, họ sẽ bắt cô về tội bắt cóc trẻ em liên quan đến một tờ khai khác về việc tìm thấy trẻ mà cô ký năm 2006.
Trong hơn 10 trường hợp, điều tra của Đại sứ quán đã tìm ra nhân thân mẹ đẻ của các trẻ được cho là bị bỏ rơi. Trong tất cả các trường hợp này, cán bộ của cơ sở nuôi dưỡng hoặc bệnh viện biết rõ mẹ của trẻ là ai, nhưng họ đã giả mạo hồ sơ để trẻ trở thành trường hợp bị bỏ rơi. Trong một số trường hợp, việc này nhằm mục đích che dấu các khoản tiền trả cho gia đình bố mẹ đẻ của trẻ. Một số trường hợp khác là trẻ được tuyên bố là bị bỏ rơi, không rõ cha mẹ sau khi bố mẹ đẻ của trẻ không thể thanh toán các hoá đơn bệnh viện.
Trong một trường hợp như vậy, giấy tờ chính thức của Việt Nam nói trẻ được sinh ở Bệnh viện X, sau đó người mẹ rời khỏi bệnh viện và không thể tìm ra tung tích. Điều tra của Đại sứ quán lại chỉ ra rằng trẻ được sinh ra ở Khoa C của một bệnh viện khác. Trẻ bị sinh sớm và có vấn đề nghiêm trọng về hô hấp, do đó đã được chuyển đến Bệnh viện X. Dựa trên thông tin từ giám đốc bệnh viện, Đại sứ quán đã xác định nơi ở và đến nói chuyện với mẹ đẻ của trẻ. Cô nói đã đến bệnh viện thăm con rất nhiều lần, nhưng giám đốc bệnh viện chỉ cho cô bế con sau khi cô đã thanh toán hoá đơn bệnh viện 12 triệu đồng. Cô nói đã xin giảm viện phí do có thu nhập thấp nhưng giám đốc bệnh viện từ chối xem xét yêu cầu này. Ngoài ra, cô cũng cho biết cô được thông báo là con cô sẽ phải điều trị trọn đời về bệnh não úng thuỷ, do đó đã được chuyển sang trại trẻ mồ côi Y để chăm sóc. Cô đã sốc khi biết con cô hoàn toàn khoẻ mạnh theo báo cáo y tế của các bác sĩ Mỹ. Sau khi Phái đoàn Ngoại giao Mỹ gây sức ép, vụ việc xin con nuôi này đã bị huỷ bỏ, đứa trẻ đã được trở về với gia đình.
-------------------------------------------------------------
Các cơ sở nuôi dưỡng không có giấy phép - Unlicensed Facilities
-------------------------------------------------------------
Ỏ 5 tỉnh, Đại sứ quán đã phát hiện các cơ sở cung cấp phòng ở và đồ ăn cho thai phụ với điều kiện thai phụ cam kết sẽ giao cho họ đứa trẻ sau khi sinh; các cơ sở này đều không có giấy phép và không thuộc bất kỳ sự quản lý nào. Không cơ sở nào trong số này quảng cáo rộng rãi dịch vụ của mình. Thai phụ biết về chúng qua thông tin truyền miệng. Mặc dù các cơ sở này mở cửa tự do, thai phụ có thể đến và rời đi khi mình muốn, họ đều ghi nợ cho số ngày thai phụ lưu trú và buộc thai phụ phải thanh toán nếu từ chối giao con. Gần đây báo chí Việt Nam đã đề cập về các cơ sở như vậy và cho biết thai phụ thường phải ở trong điều kiện bẩn thỉu và trong rất nhiều trường hợp bị buộc phải lao động trong thời gian lưu trú. Rất nhiều cơ sở trong số này có chính sách không cho phép thai phụ gặp con sau khi sinh để tránh các ràng buộc tình cảm. Thai phụ lưu trú tại các cơ sở này cho biết họ nhận được 6 triệu đồng khi giao con. Nguồn gốc của các khoản tiền này không rõ ràng, nhưng có vẻ chúng có liên quan chặt chẽ đến các trại trẻ gần đó.
Khi Đại sứ quán đến các cơ sở này, chúng tôi thấy có tới 20 thai phụ đang ở chung trong một căn nhà. Họ cho biết các cán bộ quản lý trại trẻ đã đến và yêu cầu họ ký cam kết sẽ giao con. Sau đó thai phụ sẽ nhận được khoản tiền như đã thoả thuận. Thông thường, trẻ sẽ được đưa đến một bệnh viện hoặc một trại trẻ gần đó; tại đây sẽ có một bộ hồ sơ khác theo đó trẻ đã bị bỏ rơi. Đây là các giấy tờ đã được giao nộp cho DIA và Đại sứ quán nhằm khẳng định trẻ là trẻ mồ côi.
------------------------------------------------------
Giấy tờ của Việt Nam – Các thủ tục cấp giấy
------------------------------------------------------
Các giấy tờ liên quan đến nhận con nuôi ở Việt Nam như giấy khai sinh, biên bản về trẻ em bị bỏ rơi, thoả thuận từ bỏ con, và báo cáo điều tra thường thường do giám đốc trại trẻ mồ côi, Uỷ ban Nhân dân các cấp, Sở Tư pháp và Cục Con nuôi Quốc tế cấp. Những sự việc được khẳng định trong những giấy tờ này không được các công chức cấp giấy tờ này kiểm tra. Những nỗ lực của các công chức Hoa Kỳ nhằm kiểm tra tính xác thực của những giấy tờ này thường phát hiện bằng chứng về thông tin gian dối hoặc thiếu chính xác. Vì vậy, mọi giấy tờ do các cơ quan chính quyền nêu trên cấp và các giấy tờ khác mang thông tin chưa được cơ quan cấp kiểm tra không được coi là bằng chứng hợp lệ về những thông tin được nêu và, trong trường hợp khả dĩ nhất, có thể được sử dụng kết hợp với bằng chứng chính yếu và thứ yếu về cùng sự việc hoặc phải được các công chức Hoa Kỳ tại Việt Nam kiểm tra độc lập trước khi được coi là hợp lệ cho mục đích nhập cư.
Trong những trường hợp liên quan đến một trẻ em bị bỏ rơi, các cán bộ địa phương thường cấp giấy khai sinh và biên bản về việc bỏ rơi theo đề nghị của trại trẻ mồ côi hoặc nhân viên y tế mà không nói chuyện với những cá nhân có liên quan. Ví dụ, Uỷ ban Nhân dân ở một tỉnh miền Nam cho Đại sứ quán biết họ cấp bất cứ giấy tờ nào mà nữ hộ sinh ở xã đề nghị mà không cần kiểm tra tính chính xác của những đề nghị đó. Điều đó được làm nhằm “giúp nữ hộ sinh trong công việc liên quan tới trại trẻ mồ côi”. Ở một tỉnh khác, cán bộ xã cấp giấy chứng nhận rằng một người mẹ ruột là độc thân, mặc dù sổ hộ tịch của họ ghi rõ là người này đã có gia đình và bốn con. Ngoài ra, Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội cũng từng khẳng định đối với trẻ em bị bỏ rơi, người ta có thể cấp giấy khai sinh ghi ngày và giờ bị bỏ rơi là ngày giờ sinh và ghi tên cha mẹ ruột là vô danh, ngay cả khi các thông tin chính xác đã từng được ghi lại trước đó trong các giấy tờ chính thức.
Đại sứ quán từng nhận được những báo cáo đáng tin cậy rằng một số Văn phòng DVCN trả cho những người môi giới địa phương 10.000 USD cho mỗi trẻ em được giới thiệu. Theo một trong những người môi giới này, phần lớn số tiền này chi cho giám đốc trại trẻ mồ côi, người chịu trách nhiệm tìm những đứa trẻ. Người môi giới và giám đốc trại trẻ mồ côi sau đó phối hợp với nhau làm thông báo giả nói rằng đứa trẻ bị bỏ rơi, bất chấp lai lịch thực sự của đứa trẻ. Thông báo này sau được được dùng để xin những giấy tờ cần thiết từ các công chức địa phương và Cục Con nuôi Quốc tế. Người môi giới nói rằng miễn là nộp đủ lệ phí, không ai đi kiểm tra sự thực của vụ việc và những giấy tờ đó được cấp mà không gặp bất kỳ câu hỏi nào.
Cũng đã từng có các báo cáo gian dối của công an nộp cho Đại sứ quán liên quan tới các trường hợp xin con nuôi. Ví dụ, trong một trường hợp xin con nuôi hồ sơ gốc nói rằng mẹ ruột của đứa trẻ không xác định được. Tuy nhiên, hồ sơ của bệnh viện cho biết tên và địa chỉ của người mẹ này. Khi Đại sứ quán yêu cầu giải thích tại sao Cục Con nuôi Quốc tế cấp chứng nhận cho hồ sơ xin con nuôi đó mà không có điều tra của công an về người mẹ sinh ra đứa trẻ theo luật Việt Nam, Cục Con nuôi Quốc tế đổ lỗi việc thiếu báo cáo tìm kiếm người mẹ ruột cho công an xã và cung cấp một văn bản đề ngày 21/3/2007 nói rằng công an đã kiểm tra và không tìm thấy người mẹ ruột. Tuy nhiên, người công an được coi là đã thực hiện điều tra đó nói rằng anh ta thực tế không tiến hành tìm kiếm nói trên, và rằng ngày ghi trên văn bản là không chính xác. Anh này nói rằng “khoảng 20 ngày trước đây”, trưởng công an xã bên sang chơi cùng với một tờ báo cáo đề lùi ngày được chuẩn bị sẵn về cuộc tìm kiếm nhờ anh ký và anh này đã ký.
------------------------------------------------------
Giấy tờ của Việt Nam – Các thủ tục kiểm tra
------------------------------------------------------
Khi một đứa trẻ đã tìm được cha mẹ nuôi tương lai, Sở Tư pháp tiến hành xem xét hồ sơ để đảm bảo hồ sơ có đầy đủ giấy tờ hợp lệ theo luật Việt Nam. Theo các công chức Sở Tư pháp, việc xem xét bao gồm kiểm tra thực tế rằng đứa trẻ đang được nuôi dưỡng trong trại trẻ mồ côi và kiểm tra xem mỗi giấy tờ bắt buộc có được ký, đóng dấu và có trong hồ sơ. Không có quy định nào về việc kiểm tra tính chính xác của thông tin có trong hồ sơ. Ngoài ra, không có yêu cầu nào về việc kiểm tra xem bố mẹ ruột có ý định từ bỏ đứa trẻ hay kiểm tra hoàn cảnh mà đứa trẻ bị bỏ rơi. Theo Cục Con nuôi Quốc tế, ngay cả khi việc xem xét này phát hiện ra bất kỳ không tin không thống nhất nào, các công chức của Cục con nuôi Quốc tế và Sở Tư pháp không được phép tiến hành xem xét độc lập những thông tin này hoặc nói chuyện trực tiếp với các nhân chứng của vụ việc. Thay vào đó, theo Điều 45 của Nghị định 68/2002, họ phải trả lại hồ sơ cho cán bộ đã làm báo cáo ban đầu. Nếu người này chứng thực rằng báo cáo ban đầu của họ là chính xác, vụ việc sẽ tiếp tục được xem xét.
Quan điểm rõ ràng của Cục Con nuôi Quốc tế là, chừng nào các giấy tờ hợp lệ được các công chức phù hợp ký xác nhận, Cục Con nuôi Quốc tế sẽ chứng thực rằng hồ sơ xin con nuôi đó phù hợp với pháp luật Việt Nam. Cục Con nuôi Quốc tế từng khẳng định rằng cơ quan này thực tế không có quyền tuyên bố một hồ sơ xin con nuôi là bất hợp pháp, đình chỉ một Lễ Giao và Nhận Con nuôi hoặc bác một đơn giới thiệu. Việc thiếu những quy định về kiểm tra và trách nhiệm trong luật pháp về nhận con nuôi của Việt Nam tạo ra một tình huống mà một giám đốc trại trẻ mồ côi hoặc cán bộ địa phương tha hoá tự tạo hồ sơ “bỏ rơi” hoặc “từ bỏ” cũng chính là người có thể điều tra những gian lận bị cáo buộc trong vụ việc đó.
Một cán bộ ở một Sở Tư pháp cho Đại sứ quán biết về những trường hợp mà theo luật Việt Nam đứa trẻ đã tìm được gia đình nhận nuôi và hồ sơ được chuyển tới cơ quan của cô này để kiểm tra. Trong một trường hợp, hồ sơ của bệnh viện ghi nhận rằng người mẹ ruột đã khai với bệnh viện dưới một tên giả và qua đời ngay sau khi sinh. Đứa trẻ được coi là bị bỏ rơi. Tuy nhiên, cán bộ Sở Tư pháp này tìm thấy trong hồ sơ bệnh viện một thông tin nói rằng gia đình của sản phụ đã đến bệnh viện để nhận xác. Vì vậy, người cán bộ này liên lạc với gia đình này và được khẳng định rằng bệnh viện đã chuyển đứa trẻ cho trại trẻ mồ côi mà không có sự đồng ý của họ và trại trẻ mồ côi bác bỏ quyền được thăm nuôi của gia đình. Gia đình này hiện đã được đoàn tụ với đứa trẻ và đứa trẻ đang được ông bà nuôi dưỡng. Tuy nhiên, người cán bộ này nói rằng theo luật Việt Nam không ai đã làm sai về mặt luật pháp trong việc chia cắt đứa trẻ này ra khỏi gia đình. Chỉ nhờ vào quan tâm cá nhân và khả năng thuyết phục đồng nghiệp làm theo lẽ phải của người cán bộ này mà giúp đứa trẻ đã không phải chia lìa gia đình vĩnh viễn.
------------------------------------------------------------
Những báo cáo về tham nhũng trong hệ thống nhận con nuôi
------------------------------------------------------------
Đại sứ quán đã nhận được những báo cáo tin cậy từ những nhân viên hiện tại hoặc đã nghỉ việc của các Văn phòng DVCN ở Việt Nam liên quan tới tham nhũng trong hệ thống nhận con nuôi, bắt đầu từ các thủ tục cấp phép. Một số văn phòng DVCN đã báo cáo rằng họ được yêu cầu tài trợ các chuyến du lịch Hoa Kỳ cho quan chức của Cục Con nuôi Quốc tế và các cơ quan chính phủ khác để nhận được giấy phép. Theo nhân viên của các văn phòng này, các chuyến du lịch này thường bao gồm cả mua sắm thả cửa và nhân viên các văn phòng DVCN phải trả toàn bộ hoá đơn mua bán của đoàn Việt Nam. Các nhân viên khác nói rằng họ từng bị đề nghị hối lộ để nhận được giấy phép ở các tỉnh.
Ngoài ra, lời kể của các bố mẹ nuôi và nhân viên văn phòng DVCN cho thấy rằng nhiều văn phòng DVCN yêu cầu bố mẹ nuôi tài trợ bằng tiền mặt cho giám đốc và nhân viên trại trẻ mồ côi. Theo Bộ Tư pháp Việt Nam, những khoản tiền trả này là bất hợp pháp, nhưng Bộ này cũng thừa nhận rằng chúng khá phổ biến và đó là yếu tố then chốt trong những sai phạm phát hiện được trong hệ thống nhận con nuôi ở Việt Nam. Ngoài ra, các văn phòng DVCN cũng báo cáo rằng tài trợ bằng tiền mặt hoặc hiện vật đã được chuyển cho nhân viên của các trại trẻ mồ côi và được dùng để mua tài sản cá nhân, xe hơi riêng, đồ trang sức và trong một trường hợp, để đầu tư vào bất động sản.
-------------------------------------------------------
Phản ứng chính thức trước những báo cáo về sai phạm
-------------------------------------------------------
Cục Con nuôi Quốc tế thừa nhận rằng khi nhận được những báo cáo từ Đại sứ quán liên quan tới gian dối trong những trường hợp xin con nuôi, cơ quan này đã làm việc với văn phòng DVCN hoặc những người môi giới ở địa phương để tìm cách bác bỏ những bằng chứng của Đại sứ quán. Thường thì việc này bao gồm một cuộc điều tra thứ hai mà trong đó người tìm con nuôi đã được thông báo trước rằng họ sẽ được phỏng vấn lại tại Uỷ ban Nhân dân. Khi họ tới, họ được nhắc nhở là họ có thể bị phạt vì trước đây đã từng khai gian dối với Uỷ ban Nhân dân. Trong những trường hợp khác, những người mẹ ruột ở các tỉnh nông thôn đã từng nói với Đại sứ quán rằng họ không đồng ý từ bỏ đứa con của họ được triệu tập và phải tự bỏ tiền ra Hà Nội để ký vào giấy cam kết từ bỏ con mới tại Cục Con nuôi Quốc tế. Trước sức ép này, những người tìm con nuôi và mẹ ruột của đứa trẻ buộc phải công khai rút lại những gì đã nói với các nhân viên lãnh sự.
Đại sứ quán đã thông báo cho Cục Con nuôi Quốc tế về những trường hợp có khả năng gian lận hoặc phi phép. Tuy nhiên, Cục Con nuôi Quốc tế thừa nhận họ đã không có bất kỳ hành động nào, hình sự hoặc hành chính, chống lại bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào vì vi phạm luật hoặc quy định của Việt Nam liên quan tới xin con nuôi. Họ cũng nói rằng họ không có hành động nào để giải quyết những quan ngại hoặc cáo buộc về sai phạm do các cá nhân, các văn phòng DVCN hoặc do Đại sứ quán gửi đến. Thay vào đó, Cục Con nuôi Quốc tế nói rằng cơ quan này vì lợi ích “nhân đạo” của Chính phủ Việt Nam mà đảm bảo các hồ sơ xin con nuôi được hoàn tất một cách nhanh nhất. Họ cho biết các văn phòng DVCN đã tài trợ cho đứa trẻ, và vì vậy, ngay cả nếu họ có quyền bác bỏ một đơn giới thiệu hoặc một hồ sơ xin con nuôi, họ sẽ không làm vì họ không thể phá bỏ hợp đồng với văn phòng đó.